
Nem chua Yên Mạc
Ca dao địa phương Yên Mạc có câu:
Yên Mạc đặc sản nem chua
Tiệc tùng đình đám thường mua về dùng.
Nem chua nổi tiếng nhất vùng Yên Mạc là xã thuộc huyện Yên Mô, Ninh Bình, nổi tiếng với đặc sản nem chua cổ truyền.
Tương truyền: Vào thời nhà Nguyễn, ở làng Yên Mô Thượng (xã Yên Mạc), có cụ Phạm Thận Duật, giữ chức Thượng thư trong triều đình Huế. Con gái cụ là Phạm Thị Thư, theo cha vào kinh thành Huế. Cụ Duật rất thích uống rượu với món nem chua Huế nên cô Thư đã học hỏi các đầu bếp nổi tiếng của cung đình để làm món nem chua cho cha nhắm rượu. Các vị quan khách đến nhà cụ Phạm chơi đều được thết đãi món nem chua do chính tay con gái cụ làm. Ai cũng cho là còn ngon hơn cả nem chua trong mâm tiệc của triều đình. Khách ra về thường mua và được cụ Phạm biếu nem chua làm quà.
Sau này, bà Thư về quê, truyền nghề làm nem chua cho ông Phạm Xuỷ là chắt cụ Phạm Thận Duật ở Yên Mạc. Ông Xuỷ mở quán nem chua ở phố cầu Bút (xã Yên Mạc), tiếng đồn nem chua ngon lan khắp tỉnh và những vùng xung quanh như Nga Sơn (Thanh Hoá), Nghĩa Hưng (Nam Định). Các quan phủ, quan tỉnh Ninh Bình có tiệc tùng, đình đám, đều sai người về Yên Mạc mua nem chua. Du khách đi qua cầu Bút đều mua nem chua về làm quà. Đến nay, nem chua Yên Mạc vẫn nức tiếng trong vùng, trở thành một đặc sản địa phương.
Kỹ thuật làm nem chua rất cầu kỳ. Nhất thiết phải dùng thịt nạc mông, vừa mới mổ lợn, thịt còn tươi nóng. Nếu dùng thịt thăn hoặc nạc vai, nem sẽ bị nhão, không ngon.
Thịt nạc mông lọc hết mỡ bạc nhạc bỏ đi. Dùng dao sắc thái từng miếng độ nửa phân, dài 2 - 3 phân, thái đến đâu, dùng sống dao dần nhừ thịt đến đó cho mềm, luyện vào thính. Thái xong thịt gói vào vải sạch đem ép nén chảy bớt nước, nem để lâu mới không bị hỏng.
Bì lợn khoanh mặt da vào trong, buộc lại rồi bỏ vào luộc vừa chín, không được nhão, khó thái, bì không ngon. Vớt bì ra, ép cho thẳng, lọc bớt mỡ bạc nhạc đi dùng dao sắc thái mỏng, lạng từng thanh mỏng như tờ giấy, thái nhỏ như sợi cước.
Thính gạo tẻ: Phải rang vàng, không được cháy, giã nhỏ thành bột. Thịt nạc (đã thái và ép), trộn lẫn bì lợn, thính, muối, mì chính nhào lẫn tạo nên mùi thơm đặc trưng thể nhắm rượu ngay được. Muối và thính phải cho vừa liều lượng nem sẽ chua và ngon, nếu ít không đủ tạo men, nem sẽ bị hỏng, nếu nhiều quá nem chóng chua.
Gói nem bằng lá chuối, bọc ngoài lớp nem là lá ổi để khi ăn có vị thơm. Sau khi gói lá chuối thì dùng lạt buộc chặt để nem chóng chua. Về mùa hè, nem gói sau một ngày là ăn được, mùa thu sau 2 ngày mùa đông sau 3-4 ngày.
Nước chấm là nước mắm ngon pha có tỏi. Khi ăn kèm các loại lá sung, mơ, đinh lăng... ăn rất ngon.
2
Cơm cháy Ninh Bình

Cơm cháy Ninh Bình
Cơm cháy Ninh Bình là một trong những món ăn đặc sản ẩm thực nổi tiếng của Ninh Bình. Địa bàn phát triển loại hình ẩm thực này chủ yếu là ở ven đường quốc lộ 1, thành phố Ninh Bình, huyện Hoa Lư và thị xã Tam Điệp và các khu du lịch. Cơm cháy Ninh Bình được sản xuất đóng gói và bán trên thị trường.
Nguồn gốc phát triển
Thời Pháp thuộc, ở Ninh Bình có người thanh niên trẻ tuổi tên Hoàng Thăng ra Hà Nội làm công cho một hiệu ăn nổi tiếng của người Hoa. Sau đó, do không lấy được con gái ông chủ, Hoàng Thăng bỏ việc, trở về quê nhà. Với kiến thức đã học được là bí quyết chế biến các món ngon, đặc biệt là món cơm cháy, Hoàng Thăng đã quyết chí xây dựng một nhà hàng ăn chuyên về cơm cháy. Sau này Hoàng Thăng lại được ông chủ cũ mời cộng tác mở nhiều nhà hàng mới và gả con gái cho. Từ thành công của ông, nhiều cửa hàng khác cũng mọc lên, món cơm cháy Ninh Bình ra đời.
Một trong những nguyên nhân quan trọng kích thích món cơm cháy Ninh Bình cũng như rượu Kim Sơn phát triển phải nói đến sức cung dồi dào của vựa lúa khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng, nơi có đất đai màu mỡ phì nhiêu hàng năm cho một sản lượng lớn các loại lúa gạo ngon như: gạo tám Hải Hậu, dự, nếp hương… Từ khi Ninh Bình phát triển mạnh các khu du lịch, món đặc sản thịt dê núi cũng góp phần trợ giúp cơm cháy Ninh Bình phát triển vì nước sốt chan cơm cũng sử dụng thịt dê, hơn nữa thịt dê ít béo nên có thể ăn với cơm cháy mà không bị ngán. Hầu như các nhà hàng ăn ở đây đều cung cấp thịt dê núi đi kèm với cơm cháy.
Ngày nay, ở Ninh Bình có nhiều nơi kinh doanh món cơm cháy, nhưng món cơm cháy gia truyền của ông Hoàng Thăng thường được dân gian coi là nổi tiếng nhất. Nét độc đáo của cơm cháy Ninh Bình là từ nguyên liệu sở tại. Khác với các vùng khác từ cách chiên cho đến nước sốt đi kèm.
Chế biến
Cơm cháy bao gồm cơm, thịt bò hoặc tim, cật lợn sào với rau như hành tây, nấm rơm, cà rốt và cà chua. Để cơm được ngon thì người ta dùng gạo nếp Hương, hạt gạo tròn và trong. Nấu than củi là tốt nhất. Phải để lửa thế nào đó cho thật đều, tạo cháy ở khắp đáy nồi, không chỗ nào dày chỗ nào mỏng. Nhất thiết phải nấu bằng nồi gang. Cơm cháy lấy ra xong phải phơi nắng tự nhiên hai, ba nắng thì mới đạt. Khi bảo quản phải vệ sinh, để chỗ thoáng, tuyệt đối tránh ẩm mốc, lúc gần ăn mới chiên giòn. Nếu chiên để qua buổi, qua ngày, cơm sẽ bị hôi dầu và bã, không ngon. Thịt bò thăn thái lát đem ướp gia vị và đem sào đều với các loại rau, sau đó đổ lên cơm cháy. Cơm cháy ngon có màu vàng nhạt, đều hạt, giòn mà vẫn dẻo, vị thơm cốm mới.
Cơm cháy Ninh Bình cùng với các món từ thịt dê núi Ninh Bình và rượu Kim Sơn là một bữa tiệc độc đáo với đầy đủ hương vị các miền sông, núi Ninh Bình, được đi vào trong thơ ca:
"Rượu ngon cơm cháy thịt dê
Ninh Bình chào đón khách về thăm quan
Đẹp thay non nước Tràng An
Hạ Long trên cạn, đại ngàn Cúc Phương."
3 ........
Dê núi Ninh Bình

Dê núi Ninh Bình là tên gọi thông dụng của các món đặc sản ẩm thực được chế biến từ thịt dê sống ở miền núi đá vôi Ninh Bình như tái dê, lẩu dê, dê xào lăn, dê nướng... Loại đặc sản ẩm thực này phát triển khá mạnh ở Ninh Bình và là một trong những đặc sản tiêu biểu của địa phương. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM, Hạ Long, Đồng Nai cũng có nhiều các nhà hàng chuyên kinh doanh đặc sản với thương hiệu “dê núi Ninh Bình”. [
Thịt dê núi Ninh Bình có đặc trưng săn chắc, ít mỡ và có vị thơm. Người ta cho rằng sở dĩ như vậy vì ở Ninh Bình có nhiều núi đá, dê chạy nhảy nhiều nên cơ thịt săn chắc, ít mỡ hơn hẳn dê chăn thả trên đồi. Mặt khác, với địa hình đặc trưng của núi đá vôi ngập nước có rất nhiều các loại rau cỏ thích hợp là thức ăn cho dê, tạo nên chất lượng và vị ngon của thịt dê. Một số nguyên liệu và đặc sản sở tại khác cũng góp phần làm nổi bật các món thịt dê Ninh Bình phải kể đến các loại rau ăn kèm đặc trưng địa hình núi đá, rượu Kim Sơn, rượu cần Nho Quan và cơm cháy Ninh Bình. Ở Ninh Bình có rất nhiều những nhà hàng chuyên về thịt dê với những bí quyết chế biến “gia truyền”. Đây cũng là món đặc sản được địa phương xây dựng thành thương hiệu ẩm thực của mình.
Các món đặc sản thịt dê
Dê núi bắt về được đuổi và đánh cho thoát mùi hôi sau đó làm lông, thui vàng, mổ ra ướp với lá hương nhu hoặc lá cúc tần hơn chục phút, rồi lọc lấy thịt (để cả da) đem chế biến thành các món ăn.
Tái dê: thịt dê nhúng vào nước sôi cho chín tái, sau đó thái nhỏ, mỏng đều. Lấy vừng đã rang giã dập, sả thái nhỏ, lá chanh, gừng, ớt tươi thái nhỏ, nước chanh, bột ngọt đổ vào thịt dê tái đã thái, tất cả trộn đều là thành tái dê. Ăn tái dê phải kèm theo lá sung, chuối xanh, khế, lá mơ và không thể thiếu tương gừng để chấm. Rượu thông dụng với món tái dê Ninh Bình nhất là rượu Kim Sơn.Thông thường có ba loại tái dê. Tái nhúng là cách thịt dê thái mỏng thành lát rồi nhúng vào nước đang sôi. Ăn theo cách này thì thịt dê được dai hơn. Tái lăn là cách thịt dê thái mỏng rồi lăn qua chảo mỡ nóng. Loại tái này khi ăn có vị thơm và bùi béo. Cách thứ ba là tái vừng: thịt dê thái mỏng lăn qua chảo mỡ nóng như cách làm trên, sau đó đưa ra bóp trộn kỹ với vừng hoặc lạc rang tán nhỏ cùng một số gia vị khác. Điều giống nhau là khi ăn cả ba món đều phải dùng tới nước chấm. Nước chấm phổ biến nhất là tương Bần (Hưng Yên). Người ta cho rằng chỉ có loại tương bần ấy mới "xứng" với tái dê Ninh Bình. Ngoài ra, khi thưởng thức món tái dê, thực khách có thể ăn kèm một số gia vị như ớt, tỏi, sả, rau thơm... tùy theo khẩu vị từng người. Thông thường tại các nhà hàng, người ta gói tái dê trong lá sung hoặc bánh đa tráng mỏng, chấm nước mắm ngọt, nên ăn vừa có vị bùi, vị chát, vừa thơm, ngọt.
Tiết canh dê: có thể chọn uống tiết dê tươi bằng cách hứng tiết chảy uống khi tiết hãy còn nóng hổi hoặc là chế biến món tiết canh dê truyền thống. Khi làm món này, ngoài tiết dê còn có các thành phần phụ băm nhỏ như lòng, sụn, thịt bì, lạc rang và các gia vị khác như hạt tiêu, lá chanh, rau thơm...
Các món ăn khác từ thịt dê: dê nướng, lườn dê xào lăn, dê tái chanh, dê hấp sả, dê xào sa tế, dê xào thập cẩm, ngọc dương xào xả ớt, dê bóp thấu, dê hấp cách thuỷ, dê hầm rượu vang, dê nướng xá xíu Trung Hoa, sườn dê tẩm mật ong quạt than hồng, lẩu dê ngàn dặm, cháo Ngọc dương, dê xào rượu XO, óc dê chiên bột, lẩu dê khô, dê cuộn phô-mai, ngọc dương hầm thuốc bắc, thịt dê hầm phụ tử, sườn dê nướng ngũ vị, canh hạ nguyên, cà ri dê, chả dê ba lớp, dê nướng ngũ vị hương, vú dê nướng, dê nướng mọi, né mọi, dê con quay, rượu huyết dê, chân móng dê hầm thuốc…
Tác dụng của thịt dê
Do dê đực là con vật có khả năng giao phối nhiều lần trong ngày, thế nên dân gian quan niệm dê là loại thức ăn tăng cường sức khoẻ; đặc biệt là khả năng tình dục:[9] [10]
Tái dê chấm với tương Bần
Ăn vào một miếng bần bần như dê
Đêm về vợ lại tỉ tê
Tối mai ta lại tái dê tương bần!?
Hay:
Tái dê chấm với muối vừng
Ăn vào cứ thấy phừng phừng như dê.
Đặc biệt, nhiều bộ phận của dê có thể làm thuốc: dái dê và thận dê có tính bổ dương. Cao dê chữa bệnh đau lưng, tiết dê pha rượu giúp bổ huyết, chữa đau đầu, choáng váng. Trong dân gian, món ăn bồi bổ từ thịt dê có tác dụng chữa trị các chứng bệnh đau lưng mỏi gối, bổ thận tráng dương, ít tinh trùng, hoa mắt ù tai, lưng gối yếu, yếu sinh lý. Tinh hoàn dê (ngọc dương) có tác dụng trị thận suy, liệt dương, hoạt tinh. Dạ dày dê chữa gầy yếu, tiêu hoá kém, buồn nôn sau bữa ăn. Gan dê có thể điều trị những trường hợp mờ mắt sau khi ốm. Tiết dê pha với rượu trắng 40 độ chữa bổ huyết, đau đầu, chóng mặt, đau lưng. Các món ăn chế biến từ cật dê có tác dụng trị suy nhược, lãng tai, đổ mồ hôi. Cao dê toàn tính làm thuốc bổ.
Tuy nhiên có ý kiến cho rằng thịt dê có tác dụng tăng cường sức khoẻ tình dục cũng đơn thuần vì nó chứa nhiều chất đạm như các loại thịt khác. Những tác dụng mang lại của nó có thể xuất phát từ nguyên nhân tâm lý.
4...
Rượu Kim Sơn

Rượu Kim Sơn là tên gọi một loại rượu đã có đăng ký thương hiệu [1] được sản xuất từ huyện miền biển Kim Sơn thuộc tỉnh Ninh Bình. Rượu Kim Sơn thường có nồng độ cao, trong suốt, bọt tăm rượu càng to thì độ rượu càng cao. Trước đây, rượu được đựng trong các vò đất và nút lá chuối khô, rượu Kim Sơn khi uống vào cảm thấy rất thơm và êm dịu. Một đặc trưng của rượu là càng để lâu càng ngon. Đặc biệt rượu Kim Sơn có tác dụng rất tốt cho sức khỏe khi được ngâm với rắn, tắc kè, sao biển, bìm bịp .v.v. Cùng với những người Kim Sơn di cư, rượu Kim Sơn đã đi đến nhiều vùng của Việt Nam. Ngày nay rượu Kim Sơn đã được đóng chai và bán trên thị trường.
Kim Sơn là một huyện miền biển duy nhất của tỉnh Ninh Bình, đây là một trong những địa phương đầu tiên của cả nước đạt năng xuất lúa 5 tấn/ha [2](Cùng với Hải Hậu của Nam Định và Tiền Hải của Thái Bình). Các địa danh trên cùng nằm trong khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng nên rất giàu tài nguyên thiên nhiên như thủy hải sản và lương thực. Đây là những vùng đất mở mới được khai hoang, lấn biển. Chính đặc điểm đó đã sản sinh và kích thích phát triển nghề nấu rượu trở thành các làng nghề truyền thống. Hiện nay có nhiều làng nghề chuyên về nấu rượu ở Kim Sơn như: Hòa Lạc, Ứng Luật .v.v. nhưng nhiều nhất và nổi tiếng hơn cả vẫn là nghề nấu rượu ở xã Lai Thành [3].
Lúa nếp gặt về phơi khô, hong sạch cho vào chum bảo quản để nấu rượu. Nếu rượu được nấu từ nếp chiêm gọi là rượu chiêm và rượu được nấu từ gạo nếp vụ mùa thì gọi là rượu mùa. Men rượu được làm bởi những gia đình có kinh nghiệm lâu đời tại địa phương nên rất thơm và khô. Để có men quý người ta cho vào đó một số dược liệu có tác dụng thông khí huyết, diệt khuẩn. Để có được rượu ngon người nấu phải có kinh nghiệm lâu năm, nhất là việc bảo quản ủ rượu trong các điều kiện thời tiết và môi trường khác nhau. Đặc điểm nguồn nước ủ rượu và nấu rượu cũng là nhân tố quan trọng quyết định độ ngon của rượu. Một nồi rượu tùy thuộc vào quy mô lớn hay nhỏ có thể cho từ 5 - 11 lít rượu.
5. Cá rô Tổng Trường
là loại cá rô sống ở môi trường hang động ngập nước vùng đất Hoa Lư, Ninh Bình. Gọi là cá rô Tổng Trường vì loài cá này được phát hiện thấy ở vùng thuộc Tổng Trường Yên, huyện Hoa Lư. Từ năm 2009, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản 1 (Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam) chính thức đưa giống cá rô Tổng Trường và cá tràu tiến vua vào chương trình bảo tồn.[1] Cá rô Tổng Trường có thịt béo, thơm, dai, ngon, có giá trị thương phẩm cao, được coi là một đặc sản ẩm thực của Ninh Bình.
Đặc điểm nhận dạng
Cá rô Tổng Trường có hình thái giống cá rô đồng song do sống lâu năm ở vùng đầm lầy, hang động Hoa Lư nên có một số biến dị.[2] Cá có màu xanh xám, phần bụng có màu sáng hơn phần lưng, với một chấm màu thẫm ở đuôi và chấm khác ở sau mang. Các gờ của vảy và vây có màu sáng. Nắp mang cá có hình răng cưa. Chúng có một cơ quan hô hấp đặc biệt dưới mang là mang phụ, cho phép chúng có thể hấp thụ được ôxy trong không khí. Chúng có răng chắc, sắc, xếp thành dãy trên hai hàm, trên hai hàm còn có răng nhỏ nhọn: hàm răng ở giữa to hơn hai bên và răng có trên xương lá mía.
Cá rô Tổng Trường là loài dễ cho sinh sản nhân tạo, đề tài đã cho 337 con đẻ, tỷ lệ cá đẻ đạt trung bình 85%, thụ tinh đạt 74,5%, tổng số cá bột thu 324 vạn con. Cuối năm 2009, Chi cục Thuỷ sản Ninh Bình đã tiếp nhận 120 con cá Tràu tiến vua bố mẹ cỡ 0,3 - 0,5 kg/con; 730 con cá rô Tổng Trường bố mẹ cỡ 0,08 - 0,12 kg/con.
6 Miến lươn NB

Chắc hẳn các bạn sẽ thắc mắc là miến lươn Ninh Bình thì khác gì miến lươn Hà Nội đúng hem? Cũng có điểm khác biệt đấy! Này nhé, nếu bình thường, người ta thích chọn con lươn to thì với miến lươn Ninh Bình, lươn ngon phải là lươn cốm, con hơi nhỏ một chút nhưng phải béo khỏe, lưng màu nâu hồng, bụng vàng rộm mới chuẩn. Vì vậy, khi ăn miến lươn ở đây, bạn sẽ thấy con lươn sẽ hơi nhỏ, nhưng đổi lại thịt lươn lại rất chắc và thơm, nhìn đến là hấp dẫn.

Điểm khác biệt nữa là miến lươn Ninh Bình còn được ăn kèm với hoa chuối thái sợi cùng một số loại rau khác. Hoa chuối mềm có vị chát, bùi, ngọt vừa phải giúp át đi mùi tanh của lươn và cũng cho bát miến lươn Ninh Bình có vị thanh, dịu hơn so với các loại miến lươn khác. Và đó cũng chính là điểm giúp cô chủ hàng kéo khách đến với mình.

Ở đây, ngoài miến lươn nước, còn có miến lươn trộn nữa. Miến lươn trộn thì nên ăn với lươn giòn, vậy mới hợp. Từng khúc lươn giòn tan lẫn trong những sợi miến dong mềm dai, cộng thêm cả rau răm, hành phi thơm nức thật là ngon. Nếu là người tinh ý, bạn sẽ thấy lươn giòn ở đây không hề bị khét mùi dầu mỡ bởi lươn làm ngày nào được bán hết ngày đó mà.

Và một điểm nữa cũng làm khách thích thú khi đến đây ăn là bình nước vối. Thường thì, ta chỉ có trà đá hay nhân trần là may lắm rồi, hiếm khi được nếm thử mùi vị của nước vối. Đó cũng chính là cái khéo của người chủ, cô muốn khách đến đây ăn, cảm nhận được hết cái hồn của quê cô. Mách nhỏ với teens nè, nước vối này là “free” hoàn toàn đấy!

Địa chỉ nhá! Quán miến lươn này nằm ở 86 Võ Thị Sáu, đối diện công viên tuổi trẻ và chỉ bán vào buổi sáng thôi, tầm 6h30 – 10h và giá chỉ 15k thui í.

“Show” mặt tiền của hàng miến lươn ra để teens dễ dàng nhận dạng đó!

7 MẮM TÉP GIA VIỄN (IT'S ME )
Mắm tép Gia Viễn

Là huyện đồng chiêm trũng, nên người dân Gia Viễn có nghề riu tép từ lâu. Người ta dùng tép riu để làm mắm, gọi là mắm tép. Tép riu phải là tép già, thân tròn, nhỏ con, màu xanh lam. Điều quan trọng nữa là tép phải tươi, đem rửa sạch, để khô.
Sau đó lấy thính gạo rang vàng, giã nhỏ, cùng với muối trộn đều với tép theo tỷ lệ, bỏ vào hũ, có thể đổ thêm ít nước đã đun sôi để nguội, rồi bịt kín, để từ một tháng trở lên mới đem nấu chín ăn. Bát mắm tép được múc ra màu đỏ tươi, có mùi thơm ngọt, rất hấp dẫn. Người ta có thể rang mắm tép với thịt ba chỉ. Ăn mắp tép Gia Viễn không cần cho thêm bột ngọt, vẫn có vị ngon ngọt, đậm đà. Ngày nay mắm tép Gia Viễn đã trở thành món ăn đặc sản của các bữa tiệc khi có thêm đĩa rau luộc ngon.
8. KHOAI LANG HOÀNG LONG Khoai lang Hoàng Long - ngọt ngào phù sa chiêm trũng
Tuy mang một cái tên khá thuần Việt và cổ kính như vậy nhưng khoai lang Hoàng Long là một loại thực phẩm xuất hiện ở Việt Nam với lịch sử chỉ vài chục năm. Ban đầu là giống nhập nội của Trung Quốc thí điểm tại vùng đất trũng ven sông Hoàng Long (Ninh Bình) và tới thời điểm hiện tại thì nó đã được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên miền Bắc. Mặc dù vậy nó vẫn được gọi là khoai lang Hoàng Long và là một đặc sản nổi tiếng của Ninh Bình. Người ta còn cho rằng chỉ có ở Hoàng Long, khoai mới giữ được vẻ ngọt ngào đắm thắm và hương vị đặc biệt.
Khoai Hoàng Long là loại hình cây dài trung bình, thân màu tím đỏ, lá già xanh tím, gân lá tím, mặt dưới lá tím, lá hình tim. Thời gian sinh trưởng ngắn, vụ đông 100 ngày, vụ xuân 120 ngày. Năng suất bình quân 8-10 tấn/ha, cao 15 tấn/ha. Thích hợp vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ, trên các loại đất cát pha. Thời vụ trồng cuối tháng 9-5/10, vụ xuân tháng 1 đến đầu tháng 2. Mật độ 4-5 vạn dây/ha, đặt dây kiểu dọc luống.
Khoai lang Hoàng Long đặc sản Ninh Bình có vỏ củ màu hồng nhạt, ruột vàng đậm, bở trung bình, độ ngọt khá dịu dàng. Khả năng chịu hạn, rét kém, dễ sùng hà vì vậy những củ khoai nào đủ tiêu chuẩn thì ngon không biết chừng nào mà kể. Hiện tại nó được bán ở khá nhiều điểm du lịch và được các du khách nước ngoài đặc biệt ưa thích. Tại hội nghị bàn về vấn đề lập hồ sơ đề nghị Unesco công nhận cố đô Hoa Lư là di sản thế giới, các nhà văn hóa đã đề nghị và đưa khoai lang Hoàng Long vào danh mục bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực đặc trưng. Chắc chắn trong tương lai, đây vẫn mãi sẽ là đặc sản độc đáo không chỉ của Ninh Bình.
------------------
Vietnam Visa -
van chuyen hang hoa quoc te -
cong ty thiet ke web -
cong ty seo 